“Tội lỗi không xấu vì nó
bị cấm, nó bị cấm vì bản chất của nó là xấu” (Franklin). Qua câu
chuyện Ađam-Evà, Kinh Thánh trình bày cho ta thấy tội là một sự đối kháng
với Thiên Chúa, muốn thay thế Thiên Chúa làm chủ tể vận mệnh đời mình, và
lấy mình làm khuôn thước định đoạt về sự lành, sự dữ. Sự kiện bắt đầu với
lời dụ dỗ của con rắn, làm cho con người nghi ngờ về Thiên Chúa, Đấng
không tuyệt đối vô vị lợi và hoàn hảo như con người nghĩ. Giới luật được
ban ra vì lợi ích của con người (Rm 7, 10) chẳng qua cũng chỉ là mưu kế
của Thiên Chúa phát minh ra để bảo tồn các ưu phẩm của Ngài, và lời đe dọa
cũng chỉ là trò gian dối (Stk 3, 4). Với tà ý này, con người đã coi Thiên
Chúa như đối thủ của mình : một Thiên Chúa không còn vô cùng, nhưng như
một hữu thể bần cùng, vụ lợi, luôn bận tâm chống lại thụ tạo của mình
(Nietzsch).
Trước khi
là một hành vi, tội đã làm hư hỏng tinh thần con người, để rồi sau đó làm
gẫy đổ mối tương quan với Thiên Chúa, và làm đổ vỡ mọi tương quan khác
trong đời sống nhân loại (Stk 4,8). Điều oái oăm là khi sống trong tình
trạng nô lệ tội lỗi, con người cứ ngỡ mình chiếm được tự do và độc lập.
Tiếc thay con người đã không nhận ra rằng Thiên Chúa là Đấng vô biên nên
Ngài cũng là Đấng trao ban đến vô cùng, Đấng không hề từ chối điều gì với
con người mà Ngài đã dựng nên “giống hình ảnh Ngài” (Stk 1, 26). Ngài
không giữ lại cho mình điều gì, ngay cả sự sống cũng không (Kn 2, 13; Ga
3, 16).
Trớ trêu
thay, Israel sống lại thảm kịch của Ađam còn bi thảm hơn. Từ một dân riêng
ưu tuyển (Xh 19, 5) chứng kiến biết bao kỳ công Chúa đã làm cho mình,
nhưng rồi họ vẫn thích “con bò vàng” : một vị thần vừa tay họ hơn là một
Thiên Chúa “vô hình”, xa lạ; một vị thần mà họ có thể đòi hỏi theo ý họ
hơn là họ phải theo ý Thiên Chúa. Cái cám dỗ muôn thuở của con người vẫn
là muốn một Thiên Chúa đi theo con đường của mình hơn là mình phải đi theo
con đường của Thiên Chúa.
Thế rồi
Israel lại tiếp tục xây thêm “mồ mã dục vọng” của mình. Ngay cả trong
hoang mạc mà họ cũng đòi phải được ăn uống theo sự lựa chọn của mình (Đnl
9,22). Lòng tham của họ sẽ được toại nguyện, nhưng cũng như Ađam, họ phải
trả cái giá quá ư nghiệt ngã khi lấy đường lối mình thay thế đường lối
Thiên Chúa (Ds 11, 33). Đó chính là bài học mà Thiên Chúa không ngừng nhắc
lại cho Israel qua các sứ ngôn, đặc biệt là tố giác tội của giới lãnh đạo
và tư tế, là những kẻ trước tiên muốn chạy theo sự dễ dãi và lôi kéo dân
Chúa theo con đường của phàm nhân.
Khi con
người xa lìa Thiên Chúa, tội trở thành một thực tại hết sức cụ thể : bạo
lực, bất công, cường quyền, ác bá, sát nhân, ngoại tình, chiến tranh, ghen
ghét, hận thù... làm đảo điên đời sống xã hội (Is 59). Điều này cho thấy,
ai chủ trương tự kiến tạo đời mình, không lệ thuộc vào Thiên Chúa, người
đó sẽ gây bao điều ác hại cho đồng loại (Tv 52, 9). Điều đó không chỉ xúc
phạm tới quyền lợi Thiên Chúa mà còn làm tổn thương nặng nề đến tâm hồn
Ngài. Hẳn là tội nhân không thể nào xúc phạm tới Thiên Chúa nơi chính mình
Ngài (Gb 35, 36), họ chỉ chuốc lấy tai họa cho mình thôi (Gr 7, 19), nhưng
tiên vàn làm tổn thương Ngài trong mức độ nó làm tổn thương những kẻ Ngài
yêu. Đó là sự xúc phạm tới Thiên Chúa trong kế hoạch tình yêu của Ngài. Đó
còn là sự phân rẽ con người với Thiên Chúa là nguồn sống duy nhất, và là
một sự bội phản vong ân trước tình yêu vô hạn của Ngài.
Con
đường thánh thiện
Tình yêu
vô hạn của Thiên Chúa đã cụ thể hóa nơi Đức Giêsu Kitô : Đấng “tự hủy” và
“tự hiến” để làm của lễ tha thứ, giao hòa, đưa con người về với Thiên
Chúa, xóa khoảng cách muôn trùng do tội lỗi con người gây nên. Con đường thánh thiện chính là trở về với lòng từ bi của Thiên
Chúa để sống trong tình yêu thương của Ngài. Chỉ có Ngài là Đấng
Thánh duy nhất mới có thể tác thánh con người từ trong bùn nhơ tội lỗi. Sự
trở về với Chúa là gạch nối giữa tội lỗi và thánh thiện. Biên giới giữa tội lỗi và thánh thiện cũng chỉ đi qua trái tim
mỗi người chúng ta. Một con tim đóng kín hay mở rộng là sự phân
chia giữa tội lỗi và thánh thiện. Càng đóng kín càng nghèo nàn đói rách,
càng mở rộng càng dồi dào phong phú. Đóng kín là quay lại với chính mình,
với sự trơ trọi yếu hèn của bản thân mình. Mở rộng là quay về với Chúa,
với nguồn sống thánh thiện của Ngài.
Điều quan
trọng là nhận ra lỗi lầm của mình (Lc 18,10). Không nhận ra lỗi
lầm là lỗi lớn nhất trong mọi lỗi lầm. Không nhận ra lỗi lầm thì không
có con đường trở về, chỉ còn đi đến sự hư vong.
Điều đáng
nói hơn nữa là nhiều khi ta chỉ thấy lỗi lầm của kẻ khác mà không thấy
được lỗi lầm của mình, nên mọi sự đều trở nên tối tăm, hỗn loạn (Mt 7,
3-5). Cái lỗi lầm mà ta dễ thấy nơi người khác cũng chính là những điều
đang rào kín và trói buộc tâm hồn ta, để rồi tồn đọng trên đôi mắt ta.
“Chỉ khi cái dằm tội lỗi ra khỏi mắt ta, tất cả thế giới sẽ tỏa
sáng” (Taeboit).
Điều kinh
khủng hơn nữa là làm lơ hay cố chấp về những lỗi lầm của mình (Lc 13, 5).
Người Đức có câu ngạn ngữ như sau : “Sa ngã vào tội là con người,
nhưng ở lại trong tội chính là quỉ sứ”.
Tội lỗi và
thánh thiện nằm ngay trong bản chất của sự việc. Tuy nhiên, nhiều khi nó
chỉ khác nhau bằng một tâm ý. Tuy rằng đồng cảnh ngộ, cùng sự kiện, chung
một phương cách, nhưng nó luôn được phân rẽ giữa hai cực bằng một tâm ý.
Tâm ý là sự định hình một nhân cách từ bên trong, là một sự khoanh vùng
giữa tội lỗi và thánh thiện. Dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện (Lc
18, 14) và câu chuyện bà góa nghèo bỏ hai đồng bạc dâng cúng (Lc 21, 1)
cho ta thấy rõ điều đó. Mọi hành vi của ta đều phát xuất từ tâm ý, dù ý
thức hay thiếu ý thức, nó vẫn cho thấy được tình trạng của tâm hồn mình.
Hoàn cảnh
cũng là một tác động làm đổi thay tâm ý. Cùng một hoàn cảnh nhưng cái
nhìn, cách nhìn và sự vận dụng có khi hoàn toàn khác nhau. Cái nhìn tích
cực thì đó là một cơ may, cái nhìn tiêu cực thì đó là một rủi ro. Thật ra,
tự hoàn cảnh vẫn chưa là gì. Nó là gì thì tùy thuộc tâm hồn ta. Bởi đó
cũng một hoàn cảnh mà có người nên thánh nhân, có người thành tội nhân.
Điều đó cho ta thấy rằng, “Khoảng cách giữa tội lỗi và thánh
thiện hẹp đến nỗi chỉ vừa đủ chỗ cho hoàn cảnh chen vào” (Borowd).
Cũng vậy,
dĩ vãng đen tối không thể là kết luận cho một hiện tại
và tương lai. Quá khứ trong sáng không thể là lý chứng cho hôm nay và mãi
mãi. Cái nhìn cứng đọng về những gì đã qua là cái nhìn triệt hạ. Cái nhìn
đóng khung cho những gì sắp tới là cái nhìn bế tắc. Cuộc sống của
mỗi con người là một huyền nhiệm trong ân sủng Chúa và
trong nổ lực của chính họ. Không ai dại gì mà cố tình biến đời mình thành
một tên tội phạm. Không ai ngu gì mà chôn vùi bản thân mình vào nghiệp
chướng. Nhưng chỉ vì ảo tưởng, ích kỷ và kiêu căng do một ý thức hệ, một
thời thế hay biến cố làm nên. Sở dĩ người ta cố chấp, cố tình trong tội
lụy là vì để cho mình bị bao vây bởi những tường rào giả tạo đó. Vì thế,
trước khi nhận ra những lầm lỗi của mình, phải có khả năng nhận ra những
tù túng của bản thân mình.
“Mỗi thánh đều có một dĩ vãng, và mỗi tội nhân đều có một tương lai”
(Wilde). Không ai có quyền trịch thượng để đặt dấu chấm hết cho một dĩ
vãng của mình hay người khác. Cũng không ai có khả năng thần thánh để
quyết đoán cho một tương lai đang còn nằm trong bàn tay Chúa. Điều kỳ diệu
mà Chúa vẫn làm nên là vẽ lên nét thẳng trên những đường cong. Lịch sử cứu
độ và kinh nghiệm thiêng liêng cho ta biết rằng : tình thương, ân sủng,
ánh sáng và sự thánh thiện của Chúa không ngừng tỏa lan trong mọi thời
khắc để thấm nhập vào từng con người. Tình thương Ngài sẽ xóa đi khoảng
cách mà tội lỗi con người đã phân rẽ; ân sủng Ngài sẽ chế ngự tội lỗi mà
con người đã gây nên; ánh sáng Ngài sẽ soi vùng tăm tối mà con người đang
trú ẩn; sự thánh thiện của Ngài sẽ chuyển hóa sự sống mà con người đã làm
tổn thương.
Cũng từ đó chúng ta nhận thức rằng,
Thiên Chúa đang làm tất cả để con người được vui thỏa trong khát vọng thâm
sâu của mình, chứ không phải trong dục vọng nông nổi do con người làm nên.
Nhưng đừng quên rằng mãnh lực sự dữ vẫn bám riết lấy chúng ta trong mọi
giờ phút, và hoạt động của nó đi ngược lại với tiến trình của Thiên Chúa ở
nơi ta. Thiếu tỉnh thức về điều đó, ta dễ biến mình thành một người ngây
ngô, làm mồi ngon cho sự dữ. Bởi vậy, không lạ gì con người ta dễ ngộ nhận
giữa hư và thật, giữa chân và giả, giữa tạm thời và vĩnh cửu, giữa hạnh
phúc đích thực của chân tâm và hạnh phúc giả tạo của gian tà.
Hãy nhìn
ra thế giới bao la đang biển chuyển từng giây phút trong cuộc đời ta. Ở
đó, Thiên Chúa, con người và vũ trụ đang hòa tấu khúc tình ca. Sân khấu
cuộc đời đang diễn ra với ngoại cảnh muôn màu làm con người choáng ngợp.
Trong bản hợp tấu này, thánh thiện là nhịp điệu của
Thiên Chúa, tội lỗi là sự hỗn độn của con người. Hãy nhìn về Chúa
để thấy mình đang lỗi nhịp. Hãy hướng về Chúa để thiết lập một trật tự hài
hòa nơi chính mình. Hãy đến với Chúa để hòa nhập đồng bộ với Ngài. Hãy kề
cận bên Chúa để cùng hòa điệu khúc luân vũ của cuộc đời mình. Sự thánh
thiện của Chúa sẽ tưới gội và tẩy sạch mọi tội lỗi của chúng ta. Niềm vui
và hạnh phúc biết bao trong sự thánh thiện này !
Lạy Chúa mỗi ngày lòng con day dứt
không nguôi giữa niềm vui và nỗi buồn, giữa thánh thiện và tội lỗi. Những
bước đi sai nhịp nên làm con hụt hẫng và nhiều khi chới với. Có điều Chúa
luôn đến kịp thời để đặt lại bước chân con. Con biết rằng lỗi lầm là của
con người, và tha thứ là của Chúa, nên con an tâm vui bước trong cuộc đời
trong từng ngày trở về cận kề bên Chúa. Giữa bao điều phức tạp, nhiễu
nhương và phiền toái của cuộc sống; giữa những đổi thay hỗn độn của lòng
người và cảnh đời náo loạn; giữa những công việc bổn phận đầy khó khăn và
bất lợi từ nhiều phía chen lẫn những tâm ý tốt lành và xấu xa; giữa những
thái độ bất cập hay thái quá và những cái nhìn phê
phán gay gắt của anh chị em, xin cho con được tâm hồn thư thái để luôn
biết đặt mình trước mặt Chúa trong mọi sự, cho tâm hồn con biết tĩnh lặng
và nhẹ nhàng buông theo ân sủng, để sự thánh thiện của Chúa cuốn hút lấy
con bây giờ và mãi mãi. Amen.